Nghĩa lồng trong ngữ cảnh, chúng ta thường cá khó hiểu với các thuật ngữ share, stock, stock certificate…

Do có nhiều cách hiểu dị biệt về “cổ phiếu” và “cổ phần”, xin bàn thêm về các thuật ngữ rất cơ bản này để ta có một sự hiểu biết đầy đủ hơn, nhất là khi share, stock, stock certificate, stock price, được sử dụng tùy theo ngụ ý diễn đạt hay trong các ngữ cảnh khác nhau.

Một tiếp cận đơn giản, nếu ở Mỹ người ta hiểu stock là cổ phần công ty và bond là trái phiếu (nói chung), thì ở Anh có hơi ngược lại, stock thường được hiểu là trái phiếu chính phủ, bond là các loại trái phiếu khác, và share là cổ phần công ty.

Hãy xem giải thích sau: “In the U.K., the term stocks is generally applied to government stocks, and shares to shares of commercial companies. In the U.S., shares in corporation are usually called stocks, while government stocks are called bonds.”

Tuy nhiên đấy chỉ là cách nói kinh viện. Thực tế ngày nay cách dùng đã thoáng hơn tùy theo ngữ cảnh, và người Anh cũng xác nhận rằng “In practice, shares and stocks are interchangeable terms, (therefore be careful) this can lead to some confusion.” Muốn tránh confusion (mơ hồ hay rối rắm) thì cần hiểu vấn đề theo cách chúng muốn nói.

Tuy nhiên, Wall Street (stock market terms) diễn đạt phân biệt hơn một tí giữa share và stock“Share is a proportional unit of ownership of a corporation;”  “Stock is one or more shares in a corporation.” Share là cổ phần, còn stock là cổ phiếu nói chung. Do đó mới có các cách nói, “A stock is a share of ownership;” hoặc là “The right to purchase shares of stock in a corporation.” (Để dễ hiểu, có thể liên tưởng để so sánh việc dùng thuật ngữ share và stock trong thị trường chứng khoán như khi ta gọi “nhân công” và “lao động” trong “thị trường lao động”).

Thêm nữa, stock là một interchangeable term với security, gọi chung là “chứng khoán”, gồm cổ phiếu và trái phiếu. “Phiếu” ở đây ngụ ý “sản phẩm giao dịch” chứ chưa phải là certificate, (do đó dù stock và bond không mang certificate chúng vẫn được gọi là cổ phiếu và trái phiếu). Còn stock certificate, là “evidence of ownership of a bond or shares of stock,” là “chứng nhận” hay “tờ cổ phiếu”.

Nhưng nay chẳng còn ai quan tâm đến physical certificate ấy nữa vì nó bất tiện khi giao dịch trên thị trường chứng khoán. Thay vào đó là book entry form (bút toán ghi sổ).

Một cách khái quát ta gọi stock là cổ phiếu. “Cổ phiếu” ấy có khi được hiểu là cổ phần, có khi là chứng khoán nói chung. Với stock price ta gọi là giá cổ phiếu, và cũng tùy ngữ cảnh, có thể đó là “thị giá” một cổ phần hay “tình hình giá cổ phiếu” trên thị trường chứng khoán nói chung.

Tác giả:

Huy Nam – Chuyên gia tài chính-chứng khoán, tác giả sách “Tài chính chứng khoán qua nhịp cầu Anh-Việt” do NXB Trẻ, Thời báo Kinh tế Sài Gòn và Trung tâm kinh tế châu Á-Thái Bình Dương hợp tác xuất bản.

Nguồn.